Hiển thị các bài đăng có nhãn Thắng cảnh tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thắng cảnh tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 30 tháng 6, 2015

Bí ẩn ngôi chùa cổ ở Tây Bắc

(PTT) - Ngôi chùa đó ngự ở giữa chốn rừng hoang, núi thẳm. Trải qua bao biến động của lịch sử cùng sự tàn phá của thiên nhiên, chùa Chiền Viện, xã Mường Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La vẫn là chốn linh thiêng và hàm chứa bao câu chuyện tưởng như chỉ có trong truyền thuyết.

< Chùa Chiền Viện đã bị đổ nát.

Những người phá hàng cây cổ thụ quanh chùa đều gặp những chuyện chẳng lành, có người chết bất đắc kỳ tử. Ngôi chùa cổ này còn có trên 60 bức tượng được làm bằng đồng đen quý giá.

Lễ tắm tượng

Chiền Viện được coi là ngôi chùa cổ kính nhất đất Tây Bắc. Giữa cái không gian mênh mông tưởng như bất tận của đất Sơn La, chùa Chiền Viện được coi là biểu tượng của sự thịnh trị của xứ Thái xảo xia. Phật giáo đã thấm đẫm tới từng bà con dân bản nơi đây. Chẳng thế mà những gì thuộc về ngôi chùa đều được bà con bảo vệ và giữ như vật thiêng trong gia đình. Trải qua bao thăng trầm, đặc biệt là trong những năm kháng chiến chống Pháp, ngôi chùa cổ này cũng không tránh khỏi sự phá hoại của binh lửa điêu tàn.

Nhớ về một thời thịnh vượng và thanh bình đã từng tồn tại ở đất này, cụ Sa Thị Lan, người dân bản Vặt vẫn không giấu nổi niềm hãnh diện, cụ bảo: “Sư sãi trong chùa đều là những bậc nam nhi có võ công thượng thừa. Họ trừ gian, diệt ác, chế quỷ, giúp dân yên tâm sinh sống. Họ cũng là những người sở hữu các bài thuốc, mẹo chữa bệnh hiếm có người nào bì được. Họ đi đến đâu là dân được sống yên ổn ở đó”.

Hình ảnh ngôi chùa thiêng đã ăn sâu vào tiềm thức của bà con người Thái. Ngày đó đất xung quanh chùa cây cối bạt ngàn. Những thân cây to hàng chục người ôm dựng lên như những bức tường thành vững chãi. “Tôi còn nhớ rõ, mỗi năm các nhà sư dùng ống tre lấy nước trên thượng nguồn. Thứ nước suối từ rừng nguyên sinh, không lẫn tạp chất, nơi mà con người ít khi đặt chân tới để về tắm tượng”, cụ Lan vẫn rưng rưng một niềm xúc động khi nhắc về ngôi chùa thiêng của bản mình.

Giờ đã ở cái tuổi gần đất xa trời, hoài niệm về những ngày tháng vui đêm cùng núi rừng dường như vẫn luôn hiển hiện trong tâm trí của cụ Lan.

Cụ Lan kể: “Nước vác về được đổ vào trong một cái ang to. Thứ nước suối nguồn trong vắt có thể nhìn thấy tận đáy của ang. Ngày đó rừng nghiến, đặc biệt là loài cây gù hương còn nhiều nên khi nước nguồn chảy ra, nước suối nơi đây cũng có mùi thơm thoang thoảng hương rừng. Buổi tắm tượng diễn ra vô cùng linh thiêng. Các nhà sư dựng cái sạp lứa. Phía trên trải vải điều vuông vức. Từng bức tượng được mang ra theo thứ tự từ cao tới thấp.

Có những bức tượng to, 40 trai bản dùng đòn tre đực dài 4m kết lại với nhau thành một cái cáng mới khiêng nổi. Những bức tượng này được làm bằng đồng đen nên rất nặng. Trước lúc khiêng tượng, các nhà sư phải làm lễ xin phép các ngài.

Lễ tắm tượng thường diễn ra vào mùa Thu. Khi đó đất Tây Bắc đã ngớt mưa, khí hậu khô ráo, bầu trời trong xanh và sâu thăm thẳm, giữa sân chùa lễ tắm tượng diễn ra vô cùng uy nghi và linh thiêng. Sư trụ trì cầm gáo tre, khoác áo cà sa màu vàng, tay trái lần tràng hạt, tay phải dùng gáo tre múc nước trong ang được thả đầy hoa rừng ra tắm tượng. Mấy chú tiểu giúp việc đi chân đất, thành kính dùng vải điều thấm khô từng bức tượng rồi mới chuyển vào bệ tượng.

Buổi lễ diễn ra vô cùng uy nghiêm, bà con dân bản phải đứng từ xa để chiêm ngưỡng. Hơn 60 bức tượng được các trai bản mang ra lần lượt. Sư trụ trì chùa làm việc từ sáng sớm tinh mơ cho đến khi mặt trời khuất dần sau đỉnh núi Pha Đạnh (núi đá đỏ) mới kết thúc”.

Nghi lễ linh thiêng đó đã ăn sâu vào tiềm thức của bà con người Thái nơi đây. Bà con rất sùng Phật. Ai cũng một lòng làm việc thiện, họ cùng nhau dựng xây đất Mường Sang thành một xứ sở thanh bình. Đây cũng là lý do giải thích vì sao, tất cả những tài sản quý giá liên quan đến ngôi chùa đều được bà con gìn giữ bảo vệ. Trải qua 7 thế kỷ tồn tại, chùa Chiền Viện vẫn hiện lên uy nghi giữa đất trời Tây Bắc. Thế rồi khi chiến tranh nổ ra, vẻ đẹp trường tồn của một ngôi chùa dần bị hủy hoại. Những vật báu trong chùa tản mát, kéo theo đó là bao chuyện buồn xảy ra ở đất Mường Sang này.

Lấy vật gì thì phải trả lại vật đó

Sau bao năm đất Tây Bắc nằm dưới ách thống trị của thực dân Pháp, bà con xứ Thái cũng trải qua trăm đắng, ngàn cay. Đầu những năm 40 của thế kỷ XX, Nhật đảo chính Pháp, loạn lạc, lửa cháy đã lan tới Mường Sang. Bà con người Thái tản mát, ruộng đồng tốt tươi một thuở để cho cỏ mọc. Những ngôi nhà sàn bề thế, rộng rãi uy nghi bỗng trở nên hoang lạnh. Ngôi chùa cổ bị xuống cấp, kẻ gian được dịp lộng hành, chúng nhảy vào chùa lấy tượng mang bán. Những bức tượng tưởng như bất khả xâm phạm bị mất dần, mất mòn. Binh lửa, loạn lạc qua đi, bà con người Thái trở lại quê hương, chứng kiến cảnh hoang tàn, đổ nát khiến ai cũng nhói lòng. Ngôi chùa linh thiêng đã bị phá hoại, tường đổ, rêu phong phủ đầy.

Từ đó giá trị đạo đức dần bị xuống cấp, sự tham lam được phen trỗi dậy, lòng người thay đổi. Khu đất thiêng của chùa bắt đầu bị xâm phạm, nhiều người đã trà đạp lên những giá trị đạo đức mà suốt 7 thế kỷ trôi qua đã được các vị sư và bà con dân bản dày công vun đắp. Đồ của chùa bị người dân mang về sử dụng làm của riêng.

Giờ đây người dân nơi đây không được chứng kiến lễ tắm tượng linh thiêng năm nào nữa, nhưng có một chuyện mà nhiều người không thể tin nổi khi các cán bộ vào chùa chuyển tượng về bảo tàng. Ông Hà Trung Lâm - người dân ở bản Vặt vẫn còn nhớ như in về buổi chuyển tượng diễn ra cách đây 20 năm. Ông Lâm kể, vì chùa liên tục bị mất trộm, tượng quý, chuông vàng bị lấy đi. Bà con báo việc này lên huyện. Ngay sau đó, các cán bộ cho ôtô xuống chở tượng đi.

Chiếc ôtô tải đi vào tận sân chùa, họ khiêng tượng nhưng không thể nào nhấc nổi, rồi họ kết hợp cả máy móc nữa, chẳng hiểu sao các bức tượng không suy chuyển, phải hô hào nhiều người xúm lại mới đưa được tượng lên ôtô. Khi xếp được 5 bức tượng lên thùng xe, tự nhiên xe ôtô bị xịt lốp. Phải cho người đi gọi thợ vá lốp, vá xong lốp thì không thể nổ máy. Cánh tài xế có kinh nghiệm chạy đường trường hiểu xe như lòng bàn tay cũng đành bó tay.

Chứng kiến câu chuyện rất thần bí này, các cụ trong bản Vặt mới nhớ lại lễ tắm tượng của các sư trụ trì khi xưa, trước khi muốn rời tượng khỏi chùa phải làm lễ xin các ngài, mới hy vọng chuyển tượng đi được. Buổi lễ diễn ra nhanh chóng, thay vì đưa các ngài lên ôtô chuyển đi, mấy chục thanh niên của bản Vặt phải làm cáng như trước, khiêng các bức tượng đó vượt 4km đưa ra Bảo tàng huyện Mộc Châu. Sau đó những bức tượng này được chuyển lên Bảo tàng tỉnh Sơn La.

Nói về những bức tượng đồng đen này, hôm rồi đoàn cán bộ của xã Mường Sang lên tỉnh họp. Ông Hà Trung Lâm, Chủ tịch HĐND xã đã mạnh dạn kéo đoàn đến bảo tàng tỉnh đề đạt nguyện vọng được ngắm những bức tượng từng được trưng bày tại chùa Chiền Viện. Đoàn thuyết phục mãi, bảo tàng cũng chỉ đồng ý cho ông Lâm và 3 người khác ở bản Vặt được vào chiêm ngưỡng. Trải qua bao thăng trầm, bao thế hệ đời người ở bản Vặt đã qua đi, vậy mà những bức tượng vô giá của chùa Chiền Viện vẫn uy nghi và vững chãi như dãy núi Pha Đạnh đã tồn tại từ ngàn đời nay.

Chẳng hiểu sao, ông Lâm lại có hành động liều lĩnh là dùng ngón tay gõ vào thân tượng để kiểm tra xem đây có phải là tượng thật hay không. Dù vô tình hay hữu ý, ông Lâm cũng không nghĩ là ngay trong ngày hôm đó ông gặp chuyện chẳng lành. Trên đường trở về bản, ông đã bị tai nạn xe máy. Rất may vụ tai nạn đó chỉ làm ông xây xát phần mềm, tựa như một lời cảnh báo nhẹ nhàng đến với ông. Từ đó mỗi khi lên tỉnh họp, ông Lâm cũng không dám đến xem tượng nữa.

Giờ đây chùa Chiền Viện bị đổ nát, mái nhà bị sập. Bức tường được xây bằng hàng vạn hòn đá mài tưởng như mưa nắng khó bề xâm thực, nay nằm trơ ngan cùng tuế nguyệt. Khi bức tường cuối cùng của chùa bị đổ, người dân nơi đây đã lấy những hòn đá mài này về dùng. Loại đá mài này rất quý, dao, kéo, cuốc… bị cùn chỉ cần liếc đi, liếc lại vài lần là sắc lẹm trở lại. Đá quý là vậy, nhưng những người dám mang đá xây chùa về nhà đều gặp những chuyện chẳng lành.

Không ai bảo ai, họ cứ lần lượt mang đá trả lại chùa. Ông Sa Trọng, Trưởng bản Vặt xác nhận: Đến giờ không ai dám động đến bất kỳ thứ gì ở chùa nữa. Chỉ tiếc rằng, bao đồ chân quý năm xưa của chùa cứ mất dần. Giờ đây, bà con chỉ giữ lại được 7 cái bát cổ, thứ quý giá duy nhất còn sót lại.

Mất mạng vì động vào tấm bia thiêng

Đến giờ người dân nơi đây vẫn còn nhớ như in tấm bia cổ của chùa khắc trên nền đá xanh, ghi lại lịch sử của chùa và sự đóng góp của những tấm lòng hảo tâm tu bổ chùa. Tấm bia bị vứt chỏng chơ ngoài vườn nên cụ Hà Văn Uộn ở bản Vặt nhà ở gần chùa đã nhặt về làm miếng lót chân cầu thang nhà sàn. Tấm bia vuông vức đặt rất vừa chân. Mùa mưa bước vào không bị trơn, mùa hè bước lên tấm bia đá thì mát lạnh. Ai cũng nghĩ ông Uộn may mắn vì “kiếm” được tấm bia đẹp đẽ đó.

Ít người biết rằng, từ ngày mang tấm bia thiêng của chùa về ông Uộn gặp biết bao nhiêu là chuyện tai ương. Ngay bản thân ông Uộn cũng không lý giải nổi ma xui quỷ khiến thế nào mà ông dám trà đạp lên những giá trị đã được bao đời dày công vun đắp. Đầu tiên là lợn, gà nhà ông Uộn nuôi thường xuyên mắc bệnh và không lớn được. Trong khi đó ở cách chùa khoảng trăm mét, đàn lợn, đàn gà của bà con nuôi lớn nhanh như thổi. Lạ hơn nữa là “nà” (ruộng) của ông Uộn mọi năm lúa tốt bời bời. Từ khi ông mang tấm bia về lót chân cầu thang nhà sàn, lúa chẳng lên được. Cũng trên thửa ruộng đó, cũng cách chăm sóc giống nhau mà lúa của bà con lên tươi tốt.
Dulichgo
Quá sợ trước những sự việc diễn ra cùng một lúc và có hệ thống, ông Uộn mới giật mình khi nhìn lại tấm bia của nhà chùa kê trước nhà. Sau nhiều lần đắn đo, ông Uộn quyết định mang trả lại tấm bia của nhà chùa. Ông Uộn vừa đưa tấm bia lên xe chở trả chùa thì gặp đứa cháu tên là Hà Văn Cấp. Anh Cấp ngỏ ý muốn giữ lại tấm bia đó cho người bạn làm nghề ba toa ở ngoài xã. Sau mấy ngày hẹn hò, người bạn của anh Cấp là Khánh dẫn theo một người nữa tên là Thâu về xóm mua lợn. Đợi mua xong lợn, họ sẽ chuyển cả tấm bia kia ra ngoài.

Chuyện chỉ có vậy, không ngờ tấm bia thiêng đó một lần nữa khiến bà con người Thái nơi đây phải giật mình vì chuyện xảy ra ngay buổi chiều nhập nhoạng hôm đó. Vợ chồng anh Cấp dẫn Khánh và Thâu đi vào xóm bắt lợn, lúc này sương đã giăng khắp lối khiến con người ta dễ nảy sinh tâm trạng mơ hồ. Chị Vui vợ anh Cấp đi trước, Khánh, Thâu và anh Cấp đi sau cùng. Dọc đường chẳng hiểu sao, anh Cấp đổ cho Khánh và Thâu lợi dụng đêm tối “tòm tem” vợ của mình. Cuộc cãi vã diễn ra khi 4 con người đi qua cửa chùa Chiền Viện.

Anh Cấp nhảy xổ lên bóp cổ Khánh. Hai người đàn ông vật lộn, cãi nhau ỏm tỏi. Thâu đi phía sau liên lao can ngăn hai người đàn ông đang ghì nhau dưới tán cây cổ thụ. Can ngăn không được, sợ anh Cấp đánh người bạn của mình, Thâu đã dùng đèn pin khảo vào gáy anh Cấp. Thâu cũng không ngờ cú đập đèn pin định mệnh đó đã cướp đi mạng sống của anh Cấp. Chuyện xảy ra quá nhanh khiến bà con trong bản chạy ra can ngăn cũng không kịp. Anh Cấp mất mạng, trong khi Khánh và Thâu rơi vào vòng lao lý. Chị Vui trở thành góa phụ.

Nhiều người cho rằng nguyên nhân dẫn đến sự việc trên do Khánh muốn lấy tấm bia của chùa đi nơi khác. Việc này có đúng như thế hay không đến giờ chưa ai dám khẳng định. Tuy nhiên, từ khi án mạng xảy ra trước chùa thì không ai dám mang tấm bia này ra khỏi chùa nữa. Tấm bia uy nghiêm, được khắc chữ Hán rất rõ nét được bà con làm lễ và đưa lại vào chùa.

Lại nói đến chuyện ông Uộn, sau bao đời sinh sống an lành ở bản Vặt, tự nhiên, ông thấy trong người khó ở, làm ăn không vào. Ông đã bán đất mảnh đất cho anh Hà Văn Ngọc (con ông Hà Văn Khoát) để chuyển đi nơi khác. Chị Vui vợ của ông Cấp cũng không ở trong bản Vặt nữa. Theo cái lệ đã hình thành từ xưa, người Thái rất ít khi di chuyển nhà khỏi nơi chôn rau cắt rốn, phải vì chuyện gì tày đình lắm, họ mới chuyển chỗ ở.

Mong một ngày phục dựng lại ngôi chùa

Đưa chúng tôi đi thăm ngôi chùa cổ, ông Sa Trọng, Trưởng bản Vặt như cảm thấy muôn phần có lỗi vì năm xưa các cụ người Thái nơi đây không tìm cách ngăn chặn sự xâm lấn của những kẻ xấu vào tàn phá chùa. Ngay bản thân người dân địa phương cũng không ngần ngại phá đi những gì thuộc là quý giá nhất của ngôi chùa. Đi đến một gò đất gần chùa, ông Trọng bỗng dừng lại. Chỉ tay vào nấm đất, ông Trọng bảo, đây là ngôi mộ của nhà sư ở nơi khác đến chùa.

Ông này bị hổ vồ và lôi đi mất một phần thân thể. Bà con phát hiện ra thì mọi chuyện đã quá muộn. Một phần thi thể của ông đã được bà con chôn cạnh dãy xoài cổ thụ. Năm xưa, xung quanh chùa là những cây cổ thụ to bằng cả gian nhà che chắn. Dãy xoài hơn chục cây tựa như những cột chống trời. Mỗi cây cho cả tấn quả. Bà con trong bản ăn thỏa thê không hết còn mang đi cho bản khác. Vậy mà giờ đây, hàng xoài cổ thụ đó chỉ còn trơ trọi những gốc đen sì. Nó tựa như những dấu chấm than giữa trời.
Dulichgo
Ông Trọng còn kể, phía sau chùa là cây vải cổ thụ. Hơn một trăm hộ dân ăn thỏa thích cũng không hết, giống vải quả to, mọng nước lại có màu đỏ ối. Các bản khác cũng được thơm lây từ cây vải quý này. Thế rồi nhiều người cả gan chặt cả cành vải đi để lấy đất làm nương, làm rẫy. Ông Hà Văn Sọm - hộ dân ở gần chùa đã liều lĩnh chặt cành vải to và bị ngay quả báo. Từ hôm chặt cành vải, ông Sọm liên tục gặp chuyện chẳng lành.

Sau đó ít lâu người con trai của ông bị chết không rõ nguyên nhân. Tuy ngôi chùa đã bị hoang phế nhưng không hiểu sao những hộ dân liều lĩnh xây nhà gần chùa đều ở chẳng yên. Đến giờ ba gia đình đã phải chuyển nhà đi nơi khác ở. Đất xung quanh chùa đang dần được trả lại. Sau bao chuyện xảy ra, nên các hộ dân nơi đây đã chùn tay trước những việc mà nhiều người đã đánh liều làm là xâm phạm đến chùa.

Bao thăng trầm của lịch sử đã trôi qua, ngôi chùa cổ giờ chỉ còn lại cái nền gạch khi xưa. Bà con người Thái ở bản Vặt đã quyên góp tiền dựng tạm cái mái lợp để dựng tượng thờ Phật. Ước mong của bà con là một ngày nào đó, ngôi chùa sẽ được phục dựng lại. “Các tăng ni, Phật tử ở khắp nơi về bản Vặt cầu an cũng sẵn lòng quyên góp xây chùa. Giờ chúng tôi chỉ mong, các cấp chính quyền địa phương cùng phối hợp thực hiện, tôi tin ngôi chùa cổ năm nào sẽ sớm được phục dựng”, ông Sa Trọng, Trưởng bản Vặt cho biết.

Chùa Chiền Viện, còn gọi là chùa Vát Hồng, nay thuộc bản Vặt, xã Mường Sang. Chùa được tạo lập từ thế kỷ XIII, do đồng bào Thái Mộc Châu xây dựng. “Bản Vặt” - theo tiếng Thái chính là âm chệch của “Phật” và tên hội chùa lễ Phật vào tháng 5 âm lịch ở đây là “Chách Vặt, Chách Và”.

Vào thế kỷ XIII, chùa Chiền Viện là một kiến trúc Phật giáo lớn ở miền núi Tây Bắc, với số tượng Phật được thờ trong chùa là: 1 pho tượng lớn, 8 pho vừa, 56 pho nhỏ đều bằng đồng, 2 pho bằng thiếc, 1 pho nhỏ bằng ngà.

Nhưng di tích chùa Chiền Viện đó bị đổ nát từ năm 1947, còn đến ngày nay, lại chỉ là một nền chùa khoảng 100m2, mấy trụ cột và mảng tường xây bằng đá với những vòm cửa đã xuống cấp, đổ nát và 2 bệ thờ. Đặc biệt là còn một tấm bia đá (99cm x 64cm x 15cm), một nửa khắc chữ Thái (mà theo giáo sư dân tộc học Hoàng Lương thì đây là chữ "Thái trắng" ở vùng này) và một nửa khắc chữ Hán. Nội dung văn bia, cả hai ngữ đều thống nhất nói về việc xây dựng "vắt ni" (chùa này - tiếng Thái), với những người đóng góp tính bằng "công" và "hào" (tiếng Thái), trong đó có một số chức sắc (tên là "Tạo Tiêng", "Chiêu Tổn" - tiếng Thái).

Phần Hán ngữ của bia (theo nhà nghiên cứu Nguyễn Duy Chiếm) nói rõ: đây vốn là ngôi chùa cổ thờ Phật, đã bị huỷ hoại. Ngày 10 tháng 3 năm Duy Tân thứ XI (Mậu Thân, 1908) khởi công xây dựng lại, và đến ngày lành, tháng giêng năm Kỷ Dậu, 1909 thì hoàn thành. Ông Xa Văn Kỳ, tri châu, cùng nhân dân trong vùng Mộc Châu, hưng công xây dựng. Đóng góp vào việc xây dựng là rất nhiều người địa phương và cả từ phương xa, trong đó có "Đà Bắc tri châu Đinh Công Nội", "Đà Bắc tri châu Xa Văn Nghĩa", "Mai Châu tri châu Hà Công Chính"… Hãy một lần đền với nơi đây, để cảm nhận sự thanh tịnh, thiêng liêng của một di tích cổ xưa.

Theo Linh Nhi (Báo Petrotimes)
Du lịch, GO!

Thứ Năm, 25 tháng 6, 2015

Di tích lịch sử đền thờ Tây Sơn Tam kiệt

Khu điện thờ “Tây Sơn Tam kiệt” nằm trong quần thể của Bảo tàng Quang Trung, mảnh đất long bàn hổ cứ, địa linh nhân kiệt. Tại ngôi Điện, thờ ba vua và các tướng lĩnh phong trào Tây Sơn như : Bùi Thị Xuân, Võ Văn Dũng, Ngô Văn Sở, Ngô Thì Nhậm.

Điện thờ Tây Sơn Tam Kiệt (huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định) hiện nay, được xây dựng trên nền đình làng Kiên Mỹ xưa. Tương truyền ở đó là nền nhà cũ của ba thủ lĩnh Tây Sơn, đây cũng chính là nơi sinh ra ba anh em: Nguyễn Nhạc-Nguyễn Huệ-Nguyễn Lữ.

Theo những tài liệu lịch sử cổ đại, sau khi khởi nghĩa Tây Sơn bước đầu giành được những thắng lợi vẻ vang, đem lại những quyền lợi thiết thực cho nhân dân lao động.

Sau khi Nguyễn Nhạc lên ngôi Hoàng Đế đóng đô ở thành Đồ Bàn, nhân dân huyện Tuy Viễn đã góp công xây dựng ngôi nhà của ông bà Hồ Phi Phúc ngay trên nền nhà cũ để thờ ông bà và gọi đó là từ đường của ông bà Hồ Phi Phúc.
Dulichgo
Nhưng sau khi Nguyễn Ánh chiếm lại được Phú Xuân, đã tìm mọi thủ đoạn để trả thù phong trào nông dân Tây Sơn. Từ đường họ Hồ này cũng bị phá hủy, để tưởng niệm những vị anh hùng dân tộc, nhân dân địa phương lập nên ở đó một ngôi đình làng cao to bề thế gọi là đình làng Kiên Mỹ. Đình mượn cớ thờ thành Hoàng, nhưng những sắc phong thành Hoàng của các vua Nguyễn ban cho nhân dân lại đem ra thờ ở một ngôi miếu khác, còn tại đình kiên Mỹ nhân nhân bí mật ngụy trang để thờ ba anh em nhà Tây Sơn.

Hàng năm đến ngày 15/11 âm lịch dân làng cúng giỗ “Ba ngài Tây Sơn”. Thế nhưng đến năm 1946 đền bị thực dân Pháp đốt cháy; đến năm 1958 nhân dân huyện Bình Khê đóng góp công của xây dựng lại ngôi đình lấy tên Điện thờ “Tây Sơn Tam kiệt”, gắn liền với Điện thờ Tây Sơn là cây me cổ thụ và giếng nước được xây bằng đá ong với đường kính 0,5m. Năm 1979, Khu Điện thờ Tây Sơn Tam Kiệt, cây me, giếng nước được xếp hạng di tích Quốc gia.

Điều làm nên giá trị Điện thờ Tây Sơn không phải ở kiến trúc điện thờ mà ở giá trị lịch sử và nhân văn của nó. Mặc cho sự trả thù của nhà Nguyễn, nhân dân Tây Sơn vẫn tri ân, tưởng nhớ ba người anh hùng áo vải và xây dựng Đình trên chính nền nhà cũ của anh em Tây Sơn, bí mật thờ Tây Sơn Tam Kiệt bên cạnh Thành hoàng làng, Đình phá thì xây Miếu, Miếu đổ lại dựng Điện, Điện xuống cấp xây Đền.

Trong khu Đền thờ hiện còn hai di tích gốc: cây me cổ thụ và giếng nước. Cây me khoảng 300 năm tuổi, đường kính gốc 3,9m, chu vi tán 30m, được Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam cấp bằng công nhận: Cây di sản năm 2011. Đây là cây cổ thụ đầu tiên và duy nhất ở Bình Định được công nhận cây di sản.
Dulichgo
Không gian của Khu di tích, ban đầu 7,4 ha; năm 2004 mở rộng thêm 2,1 ha về phía Nam; năm 2007 mở rộng khu di tích ra đến bờ Bắc sông Côn, bao cả Di tích Bến Trường Trầu - nơi Nguyễn Nhạc dựng ngôi nhà chứa trầu và làm quán trọ cho khách buôn trầu, trước khi khởi nghĩa; năm 2013, một dự án tiếp tục mở rộng không gian cảnh quan ra hướng Bắc hơn 2 ha, thiết kế nâng cấp Đền thờ và tôn tạo Bảo tàng Quang Trung được lập, với tổng kinh phí trên 200 tỉ đồng, dự án đang triển khai thực hiện.

Hiện nay, tổng diện tích Khu di tích Đền thờ Tây Sơn được quy hoạch gần 18 ha. Mỗi năm khu di tích đón từ 70.000-80.000 lượt du khách trong và ngoài nước đến thăm viếng. Khu di tích vinh dự được đón nhiều vị lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước, Quốc hội cùng các bộ, ngành đến thăm viếng, trồng cây lưu niệm và ghi sổ vàng truyền thống của Bảo tàng Quang Trung.

Ngày 31/12/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 240/QĐ-TTg xếp hạng di tích lịch sử Khu Đền thờ Tây Sơn Tam kiệt là Di tích cấp Quốc gia đặc biệt. Đây là di tích Quốc gia đặc biệt đầu tiên của tỉnh Bình Định (trong số 48 di tích Quốc gia đặc biệt cả nước tính đến ngày nay.

Theo Dulichvn.org.vn
Du lịch, GO!

Thứ Hai, 22 tháng 6, 2015

Chùa Tây Tạng Bình Dương

Chùa tọa lạc trên một ngọn đồi thấp thuộc phường Chánh Nghĩa, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. ĐT: 0650.823020. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông. Chùa do Hòa thượng Nhẫn Tế Chơn Phổ sáng lập vào năm 1928, có tên là chùa Bửu Hương. Đến năm 1937, chùa được đổi tên thành chùa Tây Tạng. Điện Phật được bài trí trang nghiêm với khá nhiều tượng chư Phật, Bồ tát. Trụ trì là Hòa thượng Thích Tịch Chiếu.

Theo một du khách hành hương đầu năm mô tả “Chùa Tây Tạng được xem là danh lam của miền đất Bình Dương. Nằm thong thả trên ngọn đồi có nhiều bóng mát cây xanh trên đường Thích Quảng Đức, phường Chánh Nghĩa, nên chùa có cảnh trí đẹp, thoáng mát, tĩnh lặng trước cảnh náo nhiệt của phố phường.

Nét nổi bật nhất là chùa được xây dựng theo kiến trúc của một ngôi tự viện Phật giáo Tây Tạng, đặc biệt trên tầng thượng là tượng Ngũ Trí Như Lai theo bố cục Mandala- biểu tượng của Phật giáo Mật tông.
Dulichgo
Chỉ có ngày rằm, mồng một hoặc dịp lễ lớn, nhà chùa mới mở cửa cho du khách lên tầng thượng để chiêm bái Ngũ Trí Phật. Nếu du khách đi vào bên trong chánh điện thì chắc chắn sẽ không khỏi ngạc nhiên với nhiều bức họa sặc sỡ bằng nhiều màu sắc khác nhau được treo chung quanh. Mỗi bức họa là hình ảnh của các vị phật, bồ tát và tổ sư của Phật giáo Tây Tạng. Vì vậy, Chùa Tây Tạng ở Bình Dương được xem là ngôi chùa có kiến trúc độc đáo, mang màu sắc của Mật tông và khác hẳn với nhiều ngôi chùa khác ở Việt Nam.

Đến viếng chùa Tây Tạng, khách hành hương còn được nghe kể lại câu chuyện nhà sư Minh Tịnh đi tham bái Ấn Độ, Tây Tạng vào những năm 1935-1937. Sau khi đi viếng những thắng tích của Phật giáo ở Ấn Độ, ông bất kể hiểm nguy, khó nhọc đã vượt núi rừng Hi Mã Lạp Sơn để đến được kinh đô Lhasa của Tây Tạng thời đó.
Dulichgo
Tại đây, được cho là nhà sư Việt Nam đầu tiên đặt chân đến miền xứ tuyết với một ý chí bền bĩ hiếm có, nên ông được tiếp đón niềm nở và thọ truyền pháp tu của Phật giáo Tây Tạng. Cuộc hành trình này được ông ghi lại trong quyển Nhật ký tham bái Ấn Độ-Tây Tạng khá dày và hiện còn lưu giữ trong chùa.

Vào dịp đầu năm, chùa Tây Tạng có nhiều người lui tới, nhưng đông nhất là tối ngày mùng tám tháng giêng vì chùa tổ chức lễ cúng sao giải hạn, cầu an cho bá tánh thập phương.

Nếu đến chùa vào buổi sáng hoặc lúc chiều, thỉnh thoảng du khách còn được thấy Sư Tịch Chiếu- người kế thừa sự nghiệp của Hòa thượng Minh Tịnh, năm này tuổi đã ngòai trăm, vẫn thong dong tự tại dạo quanh sân chùa. Mỗi dịp đầu năm, hai kiểng chùa Hội Khánh và Tây Tạng mở rộng cửa từ bi đón khách lễ phật, để giúp cho tâm mỗi người được bình an, hướng thiện.”

Theo Thư Viện Hoa Sen, ảnh internet
Du lịch, GO!